Dương trạch tam yếu: Thiên II - Bài 1
Trong thiên Tịnh trạch này có 4 việc phải làm cần thật rành:
1) An 8 cung và 8 du niên cho Tịnh trạch (chu vi nhà).
2) Phân cung điểm hướng cho 7 chỗ quan hệ.
3) Luận đoán tốt xấu cho Tịnh trạch.
4) Những Tịnh trạch đồ làm mẫu.
1) An 8 cung và 8 du niên cho Tịnh trạch
- An 8 cung là biên tên 8 cung: Kiền, Khảm, Cấn, … đúng theo vị trí chu vi ngôi nhà. Đặt đúng la bàn tại chu vi ngôi nhà để coi theo chỉ hướng 8 cung của la bàn mà an 8 cung theo chu vi. Đặt đúng la bàn là đặt cách nào cho chuôi kim chỉ ngay vào chữ N là phương Bắc và tất nhiên mũi kim chỉa ngay vào chữ S là phương Nam (xem thiên I, bài 23).
- An 8 du niên là biên tên 8 du niên theo 8 cung, mỗi du niên theo mỗi cung do cách Bát biến du niên hay cách lập thành (Xem thiên I, bài 8).
Ngoài ra, còn phải ghi phương hướng, âm dương của ngũ hành cho mỗi cung và mỗi du niên để dễ phân định, suy cứu hầu chọn nơi tốt đặt Bếp và đặt Chủ phòng.
Thí dụ: Có một ngôi nhà đặt Cửa cái tại Đoài bên hữu mặt tiền. Khi đã an 8 cung và 8 du niên xong thì ngôi nhà sẽ y như trạch đồ sau đây:
- An 8 cung: Xem hình trên thấy chuôi kim chỉa ngay chữ N là đúng phương Bắc và mũi kim chỉa ngay chữ S là đúng phương Nam, như vậy gọi là đặt đúng la bàn. Đặt đúng la bàn tại trung tâm chu vi thì tất cả 8 cung, cung nào cũng ở đúng vị trí của nó.
- An 8 du niên: Theo cách Bát biến du niên hoặc cách lập thành du niên ở thiên I bài 8 thì Phục vị tại Đoài (vì Cửa cái tại Đoài), Sinh khí tại Kiền, Họa hại tại Khảm, Diên niên tại Cấn, Tuyệt mệnh tại Chấn, Lục sát tại Tốn, Ngũ quỷ tại Ly và Thiên y tại Khôn. Phàm Cửa cái tại đâu thì Phục vị tại đó, không cấn phải an vào.
- Khi đã an xong 8 cung và 8 du niên tất thấy rõ có 3 chỗ tốt: tại Khôn có Thiên y là kiết du niên đăng diện có ghi ba vòng khuyên 000 tốt bậc nhất, tại Cấn có Diên niên là kiết du niên đặc vị có hai vòng khuyên 00 tốt bậc nhì và tại Kiền có Sinh khí thất vị có ghi một vòng khuyên 0 tốt bậc ba. (Phàm đăng diện thì được ghi 000, đắc vịđược ghi 00, thất vị được ghi 0. Tính đăng diện, đặc vị và thất vị: xem thiên I, bài 3 và 10).
- Việc làm thứ nhất này là an 8 cung và 8 du niên để dùng vào 3 trường hợp: Một là khi nhà đã cất rồi, hai là sắp cất nhà, ba là sắp mua nhà. Như nhà đã cất rồi, thì cứ theo phương hướng của nhà mà làm việc thứ nhất này để coi Chủ phòng và Bếp, nếu đã đặt nhằm cung tốt thì thôi, bằng ở nhằm cung xấu tất phải dời lại cung có thừa Sinh khí, Diên niên, Thiên y.
Như nhà sắp cất trên một khu đất nào thì mình căn cứ theo phương hướng của khu đất đó mà làm việc, thứ nhất này để liệu định trước nên đặt Cửa cái tại cung nào, bên tả, bên hữu hay chính giữa cho thuận tiện phương hướng, để liệu định trước những chỗ đáng đặt Chủ phòng và Bếp. Có khi phải làm cái việc này tới đôi ba lần rồi mới tìm ra được phương hướng cất một cái nhà thuận tiện.
Nếu mình sắp mua thì cũng cần làm cái việc thứ này để coi ngôi nhà mình sắp mua đó tốt hay không, hoặc để coi có sửa chữa trở nên một cái nhà tốt hãy mua. ở thiên VI có lập thành đủ 24 Tịnh trạch đồ, bất cứ nhà đặt nhằm phương hướng nào, Cửa cái day về đâu cũng có một trạch đồ an sẵn 8 cung và 8 du niên. Tìm xem theo đó để sử dụng.).
2) Phân cung điểm hướng cho 7 chỗ quan hệ.
- Tịnh trạch có 7 chỗ quan hệ, có ảnh hưởng tốt xấu. Phải dùng một cái la bàn để phân cung điểm hướng cho chính xác coi mỗi chỗ ở nhằm vào cung nào. (Xem cách dùng đúng la bàn ở Thiên I, bài 25). Xem việc làm trong phần thứ nhất cũng đã ý thức về việc phân cung điểm hướng. Nhưng trong việc làm thứ nhì này cần phải chú ý và đọc qua niều lượt mới có thể phân định để khỏi sai lầm, có hại.
1) Cửa ngõ là cửa từ ngoài bước vào sân. Cũng gọi nó là cửa rào cửa giậu. Nhà không có nó thì thôi, khỏi phải tạo tác.
Phải đặt la bàn tại điểm chính giữa chu vi cái sân, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới hoặc lấy dây giăng thẳng tới điểm giữa cửa ngõ. Và nhắm hay nhìn theo phương hướng la bàn, hễ thấy điểm giữa Cửa ngõ ở vào khoảng cung nào của la bàn thì gọi cung ấy là cung Cửa ngõ. (Xem Thiên I, bài 5).
Như nhà xây cất trên một khu đất có sân trước nhà mà xung quanh nhà hoặc sau nhà có đất dư thì phải đặt la bàn tại điểm chính giữa chu vi của trọn khu đất mà phân cung điểm hướng cho Cửa ngõ, vì Cửa ngõ này là Cửa của trọn khu đất, chứ không phải Cửa của cái sân như vừa chỉ dẫn ở đoạn trên.
2) Cửa cái: là cửa làm ở mặt tiền nhà liền với nhà, là cửa từ ngoài bước vào nhà. Dù lớn nhỏ bao nhiêu cũng gọi là Cửa cái. Về Tịnh trạch, phân cung điểm hướng cho Cửa cái có ba trường hợp. Một là chu vi nền nhà hình vuông vức, bốn bề thước tấc bằng nhau. Hai là chu vi nền nhà hình vuông dài mà chiều dọc dài hơn chiều ngang. Ba là chu vi nền nhà hình vuông dài nhưng chiều ngang dài hơn chiều dọc.
Như chu vi nền nhà hình vuông vức thì phải đặt đúng la bàn tại điểm chính giữa chu vi, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới điểm giữa Cửa cái. Và nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy điểm giữa Cửa cái. Như ở vào cung Kiền thì nói là Cửa Kiền, ở vào cung Ly nói ở Cửa Ly.
Như chu vi nền nhà hình vuông dài, chiều dọc dài hơn chiều ngang, hoặc chiều ngang dài hơn chiều dọc cũng thế, thì phải làm như sau: kể từ chiều ngang mặt tiền nhà trở vào, lấy thước đo và lấy phấn gạch thành một hình vuông vức, bốn bề thước tấc bằng nhau, bằng với thước tấc chiều ngang của mặt tiền nền nhà. Thí dụ chiều ngang của mặt tiền nền nhà là 3 thước thì ba bề kia mỗi bề cũng đều 3 thước. Xong rồi mới đặt đúng la bàn tai trung tâm của hình vuông vức này (chứ không phải tại trung tâm của nền nhà) mà so cung điểm hướng cho Cửa cái như đã chỉ trên.
Thí dụ nền nhà chiều dài 5 thước dài hơn chiều ngang chỉ được 3 thước:
Coi theo hình trên thì H, I, K, L là chu vi nền nhà: chiều ngang 6 thước, chiều dọc 4 thước, trung tân của nó tại R. Còn H, I, M, P là chu vi hình vuông vức bốn bề bằng nhau, bề nào cũng đước 6 thước, tức là bằng chiều ngang của mặt tiền nhà, trung tâm của nó tại S. Vậy phải đặt đúng la bàn tại trung tâm S mà phân cung điểm hướng cho Cửa cái, chớ đặt la bàn tại R là trung tâm của nền nhà.
3) Chủ phòng: là cái phòng chúa, là trụ cột ngôi nhà. Vì vậy dùng trên du niên tại Chủ phòng mà đặt tên cho ngôi nhà. Như trong nhà có dựng nhiều phòng thì lấy cái phòng nào cao lớn nhất gọi nó là Chủ phòng. Còn các phòng thấp nhỏ hơn, dù là cái phòng của người chủ nhà cũng chẳng luận. Nếu chỉ có một cái phòng duy nhất thì dù lớn nhỏ cũng gọi nó là Chủ phòng. Nên chọn nơi cung có thừa kiết du niên để dựng Chủ phòng. Chỗ đặt giường để ngủ nghỉ mà không dược che bằng tường vách thì chưa đáng gọi là Chủ phòng.
Phải đặt đúng la bàn tại chính giữa chu vi ngôi nhà, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới Chủ phòng. Vậy nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy Chủ phòng ở vào khoảng cung nào của la bàn thì gọi cung ấy là cung của Chủ phòng.
4) Cửa phòng: là cửa của Chủ phòng, là Cửa cái của phòng cao lớn nhất trong nhà nếu trong nhà có nhiều phòng.
Phải đặt đúng la bàn tại chính giữa chu vi Chủ phòng, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới giữa cửa Chủ phòng. Và nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy điểm giữa cửa ở vào khoàng cung nào của la bàn thì gọi cung ấy là cung của Cửa phòng.
5) Bếp là chỗ có đặt lò hoặc cà ràng để nấu ăn. Thướng thường người ta đặt lò và cà ràng trên một cái khuôn lót gạch hay tráng xi măng. Thuy nhiên, không có khuôn bếp mà chỉ đặt lò, cà ràng trên mặt đất thì cũng gọi chỗ đó là Bếp. Nếu có nhà bấp riêng cũng vậy, nơi chỗ đặt lò, cà ràng gọi là Bếp.
Phải đặt la bàn tại chính giữa chu vi ngôi nhà, rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới khoảng giữa khuôn bếp hay nơi có đặt lò, cà ràng và nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy khoảng giữa đó ở vào khoảng cung nào của la bàn thì gọi cung đó là cung của Bếp. Nếu có nhà bếp riêng (không phải ở trong một ngôi nhà) thì phải đặt đúng la bàn tại chính giữa chu vi nhà bếp để phân cung điểm hướng cho Bếp.
6) Cửa Bếp: Như Bếp để trong thì thôi, không luận Cửa Bếp, bằng có đựng buồng che thì cái cửa bước vào buồng che gọi là Cửa Bếp. Như có nhà bếp riêng thì cửa của nhà này gọi là Cửa Bếp.
Phải đặt la bàn tại chính giữa chu vi cái buồng che, rồi từ trung tâm la bàn, hễ thấy điểm giữa cửa buồng ở vào khoàng cung nào của la bàn thì gọi cung đó là cung của Cửa Bếp. Hoặc đặt tại chính giữa chu vi nhà Bếp rồi từ trung tâm la bàn nhìn thẳng tới giữa cửa nhà bếp. Và nhắm theo phương hướng la bàn, hễ thấy đfiểm giữa của nhà bếp ở vào khoảng cung nào của la bàn thì gọi cung ấy là cung Bếp. Nói rõ lại: Cửa bếp là cửa của cái buồng, của cái phòng hay của cái nhà bếp có đặt bếp nấu ăn.
7) Hướng bếp: là nơi hướng miệng bếp ngó về, chứ không phải tại nơi cung có đặt lò, cà ràng. Nghĩa là Bếp đặt tại cung này nhưng miệng bếp ngó về cung hướng khác. Như cái bếp đặt tại cung Ly nhưng miệng bếp ngó về hướng Khảm hay hướng Khôn chẳng hạn. - Miệng bếp, ta thường gọi theo tiếng chữ Nho là Táo khẩu. Chớ lấm miệng bép với miệng cái lò (hay miệng cà ràng). Có thể miệng bếp ngó về hướng này, nhưng mình đặt miệng lò ngó về hướng khác. Mình phải tính du niên cho Hướng bếp chứ không tính du niên cho hướng miệng lò ngó về. Nhưng chẳng hạn đặt miệng lò ngó về các nơi có uế khí như cầu tiêu, chuồng súc vật… Đừng đặt giường ngủ nghỉ ngay Hướng bếp.
(Rất cần chú ý: Trong 7 đoạn trên đếu có dặn: Phải đặt đúng la bàn. Là phải xoay cái la bàn cách nào cho mũi kim chỉ ngay chữ S là phương Nam và chuôi kim ngay chữ N là phương Bắc).




0 nhận xét:
Đăng nhận xét