Thứ Hai, ngày 11 tháng 7 năm 2011

Bát Môn Thần Khóa - Kim Oanh Ký (phần 7)

CHUYỆN TẬN THẾ


Tận thế là gì mà gần đây từng được nêu ra nhắc mãi nó. Một thế kỷ Âu Tây là trăm năm, của Á Đông chỉ sáu mươi năm gọi là một ngươn. Từ năm Giáp Tý đến Quý Hợi, sáu mươi năm làm một ngươn gọi là Thượng ngươn, đáo lại Giáp Tý đến Quý Hợi gọi là Trung ngươn, sáu mươi năm sau nữa là Hạ ngươn rồi trở lại thượng ngươn tuần hoàn mãi mãi, một ngươn sáu mươi đó gọi là ngươn nhỏ hiệp đủ bảy ngươn nhỏ ấy là bốn trăm hai mươi năm. Làm một ngươn lớn là thất ngươn cầm, các ngươn lớn ấy cũng gọi là thượng ngươn, trung ngươn, hạ ngươn luân chuyển mãi mãi như thế. Bây giờ là năm 1969 cuối hạ ngươn gọi là đời mạt pháp sắp tận thế, loài người phải chịu sàng sẩy chết chóc, những người hiền đức để sống sót vào thượng ngươn, sống lâu sướng.

Nhiều tôn giáo trùng hợp nhau về thời kỳ tận thế, có chỗ nói rằng hai ngàn năm sau sẽ có tận thế v.v... Có sách ghi rằng chuyện vực hóa nên cồn, cồn sanh ra vực, đất liền sanh biển, biển hóa đất liền, con người sanh tồn mãi mãi. Có chỗ do theo dịch lý và sự sanh hóa như vầy: Thuở chưa tạo thiên thì hỗn độn sơ khai âm u gọi là Vô cực, từ đó sanh Thái cực, Thái cực sanh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sanh Tứ tượng, Tứ tượng sanh Bát quái, Ngũ hành mới phân có trời đất vạn vật và loài người.

Hoặc chép rằng: Thiên khai ư Tý, địa tịch ư Sửu, nhân sanh ư Dần ý nói: Mỗi một độ tuần hoàn của trời đất là mười hai vạn chín ngàn sáu trăm năm (12.600) gồm có mười hai hội lấy tên là hội Tý, hội Sửu, Dần, Mẹo.... cho đến hội Hợi có một vạn tám trăm năm (10.800).

Thiên khai ư Tý, ngôi trời mở khai vào hội Tý cả 10.800 năm có đủ nhật nguyệt tinh soi sáng, qua hội Sửu (Địa tịch ư Sửu) mở mang đên ngôi đất có cả Kim, Mộc, Thổ, Thủy, Hỏa, Phong 10.800 mới sang hội Dần hóa sanh vạn vật cùng loài người cũng phải trải qua 10.800 năm.

Tóm sơ lược như vầy: Từ có ngôi trời đến năm 1969 đặng 68.964 năm. Ngôi đất đến nay 58.164 năm, loài người sanh từ hội Dần qua Mẹo, Thìn, Tỵ bốn hội cộng lại đặng 4,164 năm là tính loài người đến năm 1969 đặng 47.365 năm, nghĩa là sau đất 10.800 năm, đất có sau trời 10.800 năm, hết hội Ngọ sẽ đến hội Mùi, Thân, Dậu, Tuất, còn những 50 ngàn năm nữa mới đến hội Hợi, chừng đó trời đất muôn vật tiêu ma hết... Rồi lại sanh trời đất khác...

Theo Âu Tây thì thủy tổ loài người là một giống khỉ, chỗ lại nói một giống cá biến thể. Nói về sự biến thể người ta từng nghe thấy lá cây hóa chim, lươn hóa chồn, cá nhám hóa nai, cá xà hóa cọp, cá voi hóa ra voi v.v...

Về Á Đông ghi rằng thủy tổ loài người là đức Bàn Cổ, lần xuống Tam Hoàng, Thiên hoàng thị, Địa hoàng thị, Nhơn hoàng thị, thời đó người ta sống trên muôn tuổi lần sụt xuống ngàn, xuống trăm, xuống chục. Nhưng đến thời kỳ lập thượng ngươn tới đây tuổi thọ loài người sẽ cứ tăng dần lên mãi. Sau Tam Hoàng đến Tam giáo thánh nhân là đấng Phục Hy chế ra Tiên thiên bát quái đến đấng Thần Nông quyền cai quản các vị Phật, Thánh, Tiên, người tìm các giống lúa nuôi sống loài người và nếm các chất cỏ cây hiệp thuốc cứu người bệnh tật, lại là hai đấng khai sáng ra nước Việt Nam cho con dòng thứ làm vua đầu tiên nước Việt Nam xưng là Hồng Bàng từ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây trở vô miền Nam. Thế sự thăng trầm bị Trung Hoa chiếm đứt hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Nước ta có lúc bành trướng trùm cả hai tỉnh Xoài Riêng và Nam Vang, đến thời Pháp thuộc vua Tự Đức cắt giao hai tỉnh ấy lại cho Căm Bốt. Vua Hồng Bàng ở vào cuối hội Tỵ trước Tây lịch 2.880 năm đến Tây lịch 1969 là 4.844 năm văn hiến của dân tộc Việt Nam. Đây là góp bàn hiến các bạn xem chơi và nhờ thời gian chứng minh rằng hư hay thực.

CHIẾM NGUYÊN ĐÁN THẬP CAN TRỊ NHỰT


Xem ngày mùng một Tết nhằm can nào kiết, can nào hung trong năm đó.

TRỊ GIÁP MỄ TIỆN NHƠN DỊCH


Đầu năm nhằm ngày Giáp, bất câu Giáp Tý, Giáp Thân... hay Giáp Dần gì cũng gọi là ngày Giáp, tất năm đó cơm gạo kém, bệnh dịch lây.
- Trị Ất mễ mạch, Quí nhân tật, đầu năm gạo lúa đắt đỏ sanh bệnh tật.
- Trị Bính hữu từ thập nhật hạn, chủ tứ ngoạt hạn. Đầu năm ngày Bính vào lối tháng Tư hạn bốn ngày.
- Trị Đinh tơ quí. Đầu năm ngày Đinh tơ lụa đắt.
- Trị Mậu túc mạch ngư diêm quí, hữu chủ hạn. Đầu năm ngày Mậu lúa muối mắc, tầm kém, mưa gió nhiều.
- Trị Kỷ mễ quí, tầm thiển, đa phong võ. Đầu năm ngày Kỷ gạo mắc, tầm kém, mưa gió nhiều.
- Trị Canh kim tiền quí, hòa thục, nhân bịnh. Đầu năn ngày Canh vàng bạc lên giá, lua trúng, người đau bệnh.
- Trị Tân ma mạch quí hòa thúc. Đầu năm ngày Tân đậu mè đắc, lúa gạo trúng mùa.
- Tri Nhâm mễ mạch tiêu, thao bạch đại, đậu quí. Đầu năm ngày Nhâm gạo lúa sụt giá, hàng vải nhiều, đậu mè mắc.
- Trị Quý hòa khuyết nhơn dịch, da võ. Đầu năm ngày Quý lúa thất, bịnh dịch phát sanh và mưa nhiều.

NHỊ THẬP BÁT TÚ
(Hai mươi tám vị tướng tinh)


Giác Mộc Giao (con sấu) - Cang Kim Long (con rồng) - Đê Thổ Lạc (nhím) - Phòng Nhựt Thố (thỏ) - Tâm Nguyệt Hồ (chồn) - Vỹ Hỏa Hổ (cọp) - Cơ Thủy Báo (beo) - Đẩu Mộc Giải (cua) - Ngưu Kim Ngưu (trâu) - Nữ Thổ Bức (dơi) - Hư Nhựt Thử (chuột) - Nguy Nguyệt Yến (én) - Thất Hổ Trư (heo) - Bích Thủy Du (rái) - Khuê Mộc Lang (sói) - Lâu Kim Cẩu (chó) - Vị Thổ Trỉ (trỉ) - Mảo Nhựt Kê (gà) - Tất Nguyệt Ô (quạ) - Chủy Hỏa Hầu (khỉ) - Sâm Thủy Viên (vượn) - Tinh Mộc Cang (chim cu) - Quỷ Kim Dương (dê) - Liễu Thổ Chương (cheo) - Tĩnh Nhựt Mã (ngựa) - Trương Nguyệt Lộc (nai) - Dực Hỏa Xà (răn) - Chẩn Thủy Dân (trùn).

Bởi hay dùng nó nên đọc tắt chữ đầu cho dễ thuộc: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vỹ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vỹ, Mảo, Tất, Chủy, Sâm, Tinh, Quỷ, Liễu, Tĩnh, Trương, Duật, Chẩn.

CHIẾM NIÊN CỐT, NGOẠT BÌ 1


Tìm năm sanh nhằm tướng tinh sao gì, gọi niên vi cốt, tháng sinh thuộc sao gì, gọi ngoạt vi bì. Người nào bì và cốt đêu thuộc tướng tinh thượng cầm gọi là sanh thuận số, hoặc bì và cốt đều thuộc hạ thú cũng là sanh thuận số. Bằng người nào sanh cốt thượng cầm, bì hạ thú hoặc cốt hạ thú, bì thượng cầm tức là sanh lỗi số.

Giả như năm sanh cốt con cheo, bì con ngựa tức là da ngựa bọc xương cheo thì dư chán, đời người được phú túc an nhàn. Ngược lại, người sanh cốt con ngựa, bì con cheo thì làm sao da cheo bọc hết xương ngựa, tất phải chịu túng thiếu, nhưng bì và cốt đều thuộc hạ thú, tuy không dư giả những đời sống cũng đặng thanh nhàn.

Nhược bì bọc không hết cốt thì đời sống thiếu trước hụt sau...

CHIẾM NIÊN CỐT NGOẠT BÌ 2


Tìm năm sanh dương lịch của người xem, tức trừ tuổi âm lịch của năm đó. Giả như: năm 1969 xem ông 35 tuổi sanh tháng 6. Khi trừ phải sụt tuổi âm lịch xuống một tuổi mới đúng dương lịch và làm đủ ba bài toán mới xong:

1.- Sụt 35 tuổi đó xuống còn 34 trừ cho năm đó như vầy: 1968 - 34 = 1934.

2.- Cộng thêm số 15 vào 1934: 1934 + 15 = 1949. Số 15 là số tính từ sao Giác đến năm thứ nhất dương lịch, sau sao Giác là 15 năm.

3.- Lấy số cộng này chia cho Nhị Thập Bát Tú (1949 : 28 = 69, còn dư 17. Lấy số dư 17 đếm trên sao 1 tại Giác, 2 tại Cang, 3 tại Đê... cho đến 17 tại sao Vị là cốt Vị Thổ Trỉ, rồi xem bảng lập thành tìm niên cốt ngoạt bì dưới đây tìm tháng nhằm sao nào, tìm sao Vị năm sanh ở cột 1 chữ Vị, dò ngang qua tới tháng sanh, ông ấy sanh tháng 6 nhằm sao Vỹ là Vỹ Hỏa Hổ, tức ông 35 tuổi cốt Vị Thổ Trỉ, bì sao Vỹ Hỏa Hổ, da cọp bọc cốt chim trỉ dư chán.

BẢNG TÌM NIÊN CỐT, NGOẠT BÌ


Nên phân biệt tháng hay năm mào thuộc sao Giác, sao Đẩu, sao Khuê, sao Tĩnh như:
- Tháng giêng là sao Tâm.
- Tháng hai là sao Vỹ.
- Tháng ba là sao Cơ.
- Tháng Tư là sao Đẩu.
- Tháng năm là sao Ngưu.
- Tháng sáu là sao Nữ.
- Tháng bảy là sao Hư.
- Tháng tám là sao Nguy.
- Tháng chín là sao Thất.
- Tháng mười là sao Bích.
- Tháng 11 là sao Khuê.
- Tháng chạp là sao Lâu.
Nên biết người sanh năm nào thuộc sao gì? Tìm sao đó nơi cột 1 rồi dò ngang qua tới tháng sanh thuộc sao nào mới trúng.

Đây ba ngươn nhỏ 180 năm, cung Phi sẽ giáp lại ngươn lớn thứ nhất: Bảy ngươn nhỏ là 420 năm.

Ngày giờ và nhị thập bát tú giáp lại nhưng chưa đủ, phải ba ngươn lớn 1260 năm mới giáp cả lại.

Bấm vào đây để xem hình lớn hơn.  Tên hình: cotbi.jpg Lần xem: 4 Cỡ: 88.2 KB ID: 1214

PHÉP BẤM TAY COI SAO
(Cho nam, nữ mạng)


Ngôi vị các sao Nam mạng và Nữ mạng khác nhau. Trước hết xem cho Nam mạng nên nhớ kỹ chín vì sao này theo thứ tự, vị nào đóng tại cung ấy, bàn tay vẽ theo đây và điểm thuận chiều kim đồng hồ.

La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hớn, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức. Khởi 10 tuổi tại La hầu, phi thuận mỗi vị tăng 10, hết tuổi chục đến tuổi lẻ, trúng vị sao nào là người ấy thuộc sao đó.

Bấm vào đây để xem hình lớn hơn.  Tên hình: bantay1.jpg Lần xem: 3 Cỡ: 23.6 KB ID: 1215


Giả như ông 23 tuổi nhằm sao nào? Khởi 10 tại La Hầu, 20 tại Thổ Tú, 21 tại Thủy Diệu... đến 23 tại sao Thái Dương, là ông 23 tuổi nhằm sao Thái dương.

Hoặc giả ông 56 tuổi sao gì? Khởi 10 tại La Hầu... đến 50 tại Thái Dương, đếm tiếp tuổi lẻ 51 tại Vân Hớn... đến 56 tại Thổ Tú, là ông 56 tuổi thuộc sao Thổ Tú.

Bấm vào đây để xem hình lớn hơn.  Tên hình: bantay2.jpg Lần xem: 2 Cỡ: 21.9 KB ID: 1216


Nữ mạng cũng do chín vì sao ấy, mỗi cung mỗi vị, nhưng muốn khỏi lầm lẫn với Nam mạng nên đọc tắt là Kế, Hớn, Mộc, Âm, Tú, La, Dương, Bạch, Diệu, cũng điểm như trên thuận theo đồng hồ. Giả như bà 33 tuổi sao gì? Khởi thuận 10 tại sao Kế, 20 tại Hớn, 30 tại, 30 tại Mộc, đếm tiếp số lẻ 31 tại Âm, 32 tại Tú, 33 tại La, bà 33 tuổi thuộc sao La Hầu.

Thêm một ví dụ nữa: bà 57 tuổi sao gì? Khởi 10 tại Kế, 20 tại Hớn... đến 50 tại tại Tú, đếm tiếp số lẻ 51 tại La, 52 tại Dương.... đến 57 tại Mộc Đức, tức bà 57 tuổi nhằm sao Mộc Đức.

Chú ý: Ông bà nào muốn cúng sao giải hạn, nên coi cách cấm đèn, vẽ bài vị, bài nguyện cúng vái ở lịch Á Đông năm 1969 là đúng cách nhất.

PHÉP BẤM TAY COI HẠN HUỲNH TUYỀN
(Nam mạng)


Nam thuận, nữ nghịch. Mỗi vị một cung theo bàn tay vẻ trước đây: Huỳnh Tuyền, Tam Kheo, Ngũ Mộ, Thiên tinh, Tán Tận, Thiên La, Địa Võng, Diêm Vương.

Nam khởi thuận tại Huỳnh Tuyền hết tuổi chục đến tuổi lẻ. Ví dụ người 23 tuổi nhằm hạn gì? Khởi 10 tại Huỳnh Tuyền, 20 tại Tam Kheo, 21 tại Ngũ Mộ, 22 tại Thiên Tinh, 23 tại Tán Tận. Ông 23 tuổi hạn Tán Tận.

Ví dụ ông 54 tuổi hạn gì? Khởi 10 tại Huỳnh Tuyền, 20 tại Tam Kheo... đến 50 tại Tán Tận, đếm tiếp số lẻ 51 tại Thiên Tinh, 52 tại Địa Võng.... đến 54 tại Huỳnh Tuyền. Ông 54 tuổi hạn Huỳnh Tuyền.

Coi cho Nữ mạng thì khởi 10 tại Tán Tận, đếm ngược lại chiều kim đồng hồ. Ví dụ bà 33 tuổi nhằm sao nào? Khởi 10 tại Tán Tận, nghịch chiều 20 tại Thiên Tinh, 30 tại Ngũ Mộ, đếm tiếp số lẻ, 31 tại Tam Kheo, 32 tại Huỳnh Tuyền, 33 tại Diêm Vương.

Cô 17 tuổi hạn gì? Khởi 10 tại Tán Tận, 11 tại Thiên Tinh.... đến 17 tại Thiên La, cô này hạn Thiên La. Muốn giải hạn cúng sao coi sách Kim Oanh Ký 5 trúng cách hơn hết.

LUẬN VỀ PHI CUNG


Quan hệ là cung Phi mới được dùng chọn tuổi vợ chồng tốt hay xấu, hoặc tạo tác các việc nhà cửa, mồ mả phương hướng mới đúng, được phú quí, thọ bần tiện, ngộ họa phước v.v...

Như luận về bát san tuyệt mạng, nhiều người tưởng rằng chỉ có sự hôn nhân mà đôi vợ chồng phải chết gấp, ở chưa nát chiếc chiếu phải chết. Nếu hỏi ai chết thì ngơ ngẩn cho rằng không chồng thì vợ, hoặc chết cả hai.

Như vậy là chưa tường tận cung Phi, chưa rõ diệu lý bát quái, ngũ hành nào phải riêng hai vợ chồng mà có cả tám người chịu liên quan đến.

Giả như câu: "Bà Càn đi chợ phù Ly" thì biết rằng Càn và Ly đại kỵ sanh sự chết chóc là tại lý do nào? Kỵ ai là chánh. Xin nêu một thí dụ: chồng cung Càn, cưới vợ cung Ly, hoặc chồng cung Ly cưới vợ cung Càn. Hoặc chủ nhà cung Càn đứng tạo tác hướng Ly, hoặc chủ nhà cung Ly dùng phạm hướng Càn. Nói tắt là Càn phối Ly rất đại kỵ. Bởi Ly âm Hỏa khắc Càn dương Kim. Theo Bát quái vạn loại thì Càn thuộc về chồng dẫu chồng Càn vợ Ly hay ngược lại vợ Càn chồng Ly, cũng vẫn Ly khắc Càn. Càn là chồng khắc hại chồng, không bao giờ xung phạm khắc hại đặng người vợ. Nếu có khắc hại người vợ phải chăng là ở một phạm vi khác ngoài phạm vi Càn Ly. Nghĩa là không phải phạm vi Càn Ly thì không bao giờ nguy hại đến chồng được.

Bạn cứ xem bộ Kim Oanh Ký 2, 3, 4 do nhà sách Hồng Dân xuất bản thì thấy rõ những quan hệ cho chồng, cho vợ hoặc cho ai trong gia đình. Bạn sẽ hiểu thấu gia đình người ta tại sao sanh sự thối tài, tai nạn quan phi lẫm chết chóc và người ở hướng nào gieo họa cho họ. Chỉ cần sửa cái bếp thế nào, cầu của đặng của, cầu con đặng con, tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ, con cái đi xa về, tớ trốn phải về rất ứng nghiệm, vạn nhất là phải ăn ở hiền lành mới đặng.

Tôi xin nêu thêm một câu trong bộ Kim Oanh Ký như vầy: "Tốn nhập Khôn vị mẫu Ly ông". Nói là chủ nhà cung Tốn dùng lầm cung Khôn, bởi Tốn Mộc khắc Khôn Thổ. Khôn thuộc vợ tất phải riêng chịu, phi mạng không phạm đến chồng, có chăng là ông không còn người vợ hiền hòa.

BÁT SAN TUYỆT MẠNG
(Đại hung kỵ)

Bà Càn đi chợ phù Ly,
Mua con cá Cấn làm chi Tốn tiền.
Bà Khảm đi chợ Khôn về,
Con Đoài cháu Chấn mựa hề lấy nhau.


Càn, Khảm, Cấn, Chấn vi dương: Ly hỏa khắc Càn Kim, Khôn Thổ khắc Khảm Thủy, Tốn Mộc khắc Cấn Thổ, gọi là Bát san tuyệt mạng, riêng về hôn nhân thì chẳng quan hệ đến vợ đặng.

BÁT SAN NGŨ QUỈ GIAO CHIẾN
(Thứ hung)


Chấn với Càn; Khảm với Cấn; Tốn với Khôn; Ly với Đoài. Toàn dương khắc dương, âm khắc âm gọi là ngũ quỉ giao chiến, sanh thị phi cãi vã không kiêng nể nhau gọi là thứ hung.

HỌA HẠI TUYỆT THỂ


Càn với Tốn; Khảm với Đoài; Cấn với Ly; Khôn với Chấn là Kim, Mộc, Thổ tương khắc. Tỵ, Dậu, Sửu, Ngọ tương phá gọi là họa hại thứ hung.

LỤC SÁT DU HỒN
(Thứ hung)


Càn với Khảm; Cấn với Chấn, Tốn với Đoài; Khôn với Ly là lục thân tương hình gọi là lục sát hoặc du hồn.

SANH KHÍ ĐẠI KIẾT


Càn với Đoài; Khảm với Tốn; Cấn với Khôn; Chấn với Ly.

DIÊN NIÊN PHƯỚC ĐỨC KIẾT


Càn với Khôn; Khảm với Ly; Cấn với Đoài; Chấn với Tốn.

THIÊN Y KIẾT


Càn với Cấn; Khảm với Chấn; Tốn với Ly; Khôn với Đoài.

PHỤC VÌ THỨ KIẾT


Càn với Càn; Khảm với Khảm; Cấn với Cấn; Chấn với Chấn; Tốn với Tốn; Ly với Ly; Khôn với Khôn; Đoài với Đoài.

HẬU THIÊN BÁT QUÁI

- Càn vị phụ.
- Khảm vi trung nam.
- Cấn vi thiếu nam.
- Chấn vi trưởng nam.
- Tốn vi trưởng nữ.
- Ly vi trung nữ.
- Khôn vi mẫu.
- Đoài vi thiếu nữ.
Những sự kiết hung trên đây không tài nào thuộc lòng được, sách Kim Oanh Ký 2 có chỉ lối bấm tay ngộ nghĩnh thật hay nghe cung nào với cung nào thì biết ngay là kiết hay hung, khỏi cần lật đến sách.

Muốn biết cung Phi nam mạng cung gì? Nữ mạng cung gì? Tiện đây soạn giả Kim Oanh Ký hiến cho độc giả một lối rất đơn giản này nữa đây.

PHI CUNG BÁT TRẠCH


Xem ngày Lập Xuân nhằm ngày đầu tiên năm dương lịch mấy, để toán con số đặc biệt của năm đó ra Phi cung. Bởi ngày Lập Xuân còn trong tháng Chạp, có khi trễ đến gần giữa tháng giêng, nếu chưa Lập Xuân phải tính theo năm cũ. Dùng năm dương lịch phi ra như sau: thí dụ năm 1968 xem cung Phi cho họ, bạn cộng các số năm đó ra bao nhiêu, nếu hơn 9 thì trừ cho 9 còn bao nhiêu, lẽ dĩ nhiên năm đó có con số 9 nào bỏ ngay ra, như năm 1968 phải bỏ con số 9 ra, cộng các số còn lại: 1+6+8 = 15, trừ 15 cho 9 còn 6. Số 6 này là con số duy nhất, toán ra Phi cung cho năm 1968. Ví du: Nữa đến năm 1999, chỉ việc bỏ hết mấy con số 9, còn số 1 dùng con số 1 ấy toán ra Phi cung cho năm 1999 vậy.


Bạn xòe bàn tay trái ra dò theo hình vẽ ở dưới, nhận thức cung nào cho quen mới mau hiểu.

Mỗi lóng tay có ghi số từ 1 đến 9. Số 1 tại chân ngón trỏ là cung thứ nhất là nhứt Khảm, số 2 là nhì Khôn, số 3 là tam Chấn, số 4 là tứ Tốn, số 5 là ngũ Trung, số 6 là lục càn, số 7 là thất Đoài, số 8 là bát Cấn, số 9 là cửu Ly. Cung nào đóng ngôi ấy không thay đổi.

Riêng cung Ngũ Trung đóng tại đầu ngón tay giữa khi bấm tuổi nam mạng nhằm cung đó thì tính ông ấy cung Khôn, bằng bấm tuổi cho nữ mạng thì cung ấy là cung Cấn (Nam Khôn, nữ Cấn), còn tám cung kia thì rõ rệt mỗi cung rồi, đặc biệt không tính ba cung Hợi, Tý, Sửu dưới chân ngón út và ngón áp út và ngón giữa.

Nam nữ đồng một tuổi với nhau mà cung Phi lại khác, nam Đoài nữ Cấn, nhược nam Cấn thì nữ Đoài, chỉ có cung Chấn nam nữ mới trùng với nhau.

Phép toán này nam khởi thuận hành tại cung Khảm, nữ khởi nghịch hành tại Ngũ Trung và cất mỗi cung một chục (10, 20, 30...), hết tuổi chục đến tuổi lẻ, đến tuổi lẻ của người ta tại cung nào thì tính cung đó.

Số đặc biệt mỗi năm có một số, từ 1 đến 9, năm nào toán nhằm số 2 thì khởi 2, cung kế là 12, 22, 33... hết tuổi chục đến tuổi lẻ, hoặc nhằm năm đó có số 5 thì khởi 5, lên 15, 25, 35, 45... còn lẻ nữa thì tiếp 46, 47, 47, 48, 49, 50, 51 v.v... đến tuổi người ta xem sẽ dừng lại tại đó.

PHÉP TOÁN PHI CUNG BÁT TRẠCH


- Nam mạng khởi Khảm thuận hành: Giả như năm 1968 bạn coi cụ 70 tuổi cung gì? Năm 1968 theo cách tính trên con số 6 là con số đặc biệt chiếm Phi cung cho năm 1968.

Bàn coi hình bàn tay, khởi số 6 đặc biệt ấy lên cung nhứt Khảm, cất mười thuận hành thì 16 tại nhì Khôn, 26 tại tam Chấn, 36 tại tứ Tốn... tới 66 tại thất Đoài, đếm tiếp số lẻ 67 bát Cấn, 68 cửu Ly, 69 nhứt Khảm, 70 nhì Khôn. Ông 70 tuổi này năm 1968 là cung Khôn.

Ví dụ thứ 2: Năm 1974, anh 26 tuổi cung gì? Năm 1974 bỏ số 9 ra, cộng các số còn lại: 1+7+4 = 12, trừ số 12 cho 9 còn số 3 là con số đặc biệt để chiếm Phi cung cho năm 1974. Khởi 3 tại nhứt Khảm, cất mười thuận hành đến 13 tại nhì Khôn, 23 tại tam Chấn, đếm tiếp số lẻ 24 tại tứ Tốn, 25 tại Ngũ trung, 26 tại lục Càn, anh 26 tuổi năm 1974 này là cung Càn. Dùng cung Càn chọn hôn nhân cùng việc tạo tác phương hướng mới đúng việc kiết hung (Coi bàn tay Phi Cung Bát Trạch).

- Nữ mạng khởi Ngũ Trung nghịch hành: Chiếm Phi cung nữ mạng khởi tại Ngũ Trung nghịch hành cũng dùng số đặc biệt của năm ấy và cất mười hết tuổi chục tiếp tuổi lẻ.

Thí dụ năm 1968 bà 38 tuổi cung gì? Năm 1968 số đặc biệt là con số 6, bấm 6 lên Ngũ Trung rồi nghịch chiều lại, cất mười là 16 tại tứ Tốn, 26 tại tam Chấn, 36 tại nhì Khôn, đếm tiếp số lẻ 37 tại nhứt Khảm, 38 tại cửu Ly, bà 38 tuổi này năm 1968 là cung Ly. Dùng cung Ly chọn hôn nhân cùng các việc tạo tác phương hướng v.v...

Ví dụ thứ 2: Vào năm 1972 chị 18 tuổi cung gì? 1972 bỏ con số 9 ra, cộng các số: 1+7+2 = 10, trừ 10 cho 9 còn số 1, đó là số đặc biệt để chiếm Phi cung nữ mạng. Khởi số 1 lên Ngũ Trung, cất mười nghịch hành 11 tại tứ Tốn, 12 tại tam Chấn, 13 tại nhì Khôn, 14 tại nhứt Khảm... tới 18 tại lục Càn là tuổi chị năm 1972 này là cung Càn. Dùng vào việc hôn nhân và tạo tác phương hướng mới đúng việc kiết hung (Coi bàn tay Phi Cung Bát Trạch).

PHI CUNG ĐẶC BIỆT


Còn một lối Phi cung đặc biệt hơn, khách nói tuổi vừa xong, tôi đã biết là cung gì rồi, cũng nhờ tìm ra có số riêng biệt của mỗi năm mà biết lẹ làng, nhưng mình phải biết mình cung gì trước đã, mới biết được của người ta. Muốn hiểu cung mình thì xem cách toán phi cung ở trên. Biết mình cung gì rồi, bạn làm ba thí dụ sau:

Thí dụ 1: Năm Mậu Thân 1968 này, người 52 tuổi cung nhì Khôn là số 2, cộng số 52 là: 5+2 = 7, đem số 7 trừ cho số 2 (nhì Khôn), còn dư 5. Số 5 này là số đặc biệt dùng để tính cung Phi năm 1968. Giả như ông khách 54 tuổi, nói vừa dứt lời, tôi biết ngay ông là cung Tốn, vì số 54 năm nay phải bỏ con số 5, còn lại số 4 là tứ Tốn, hoặc nói ông 75 tuổi thì biết ngay là ông cung thất Đoài, vì bỏ số 5 còn lại số 7 là thất Đoài, hoặc giả ông 43 tuổi, thì cộng 4 với 3 là 7, trừ cho 5 còn số 2 là cung nhì Khôn.

Năm nào gặp những ông năm mươi mấy như 51, 55, 57 tuổi hoặc có tuổi lẻ như 15, 35, 75, chỉ việc bỏ phức con số 5 ra, số còn lại là cung phi của họ, giả như ông 35 hay 53, bỏ ngay con số 5 còn lại số 3. Hai ông ấy đồng cung tam Chấn.

Thí dụ 2: Nhằm trường hợp cộng tuổi người ta lại nhỏ hơn con số trừ của năm đo phải làm thế nào? Giả như người 21 tuổi, cộng hai với 1 là 3, trong năm 1968 này phải trừ cho số 5 là số đặc biệt thì 3 trừ 5 không được.
a.- Để nguyên số 21 trừ cho 5 còn 16, cộng 1 với 6 là 7, nhằm cung thất Đoài.

b.- Hoặc thêm 9 cho 3 là 12, trừ cho 5 còn 7 cũng vậy, gặp những số tuổi cộng lại nhỏ hơn số đặc biệt năm đó thì cứ thêm 9 vào số tuổi sẽ trừ cho số đặc biệt hàng năm thì không sai.
Thí dụ 3: Thêm một thí dụ nữa để cho bạn vững lòng tin lối Phi cung này là đúng một trăm phần trăm. Như thí dụ thứ nhất trên đây, năm Mậu Thân 1968 có ông 52 tuổi cung nhì Khôn, lấy số tuổi của ông trừ cho cung nhì Khôn là 2 thấy được rồi, nhưng qua năm Kỷ Dậu 1969 nếu trừ lại con số 2 nữa thì phải sai hoặc phải dùng con số nào khác chăng?

Nhứt định không sai, trót đời ông cung nhì Khôn ấy, bắt cứ năm nào cứ trừ tuổi ông ta cho cung nhì Khôn của ông, lấy số trừ ấy trừ cho tuổi của ai ra cung người ấy không sai. Giả như 1968 ông 52 tuổi, trừ cung nhì Khôn ra còn dư 5, lấy số 5 mà trừ. Qua năm 1969 ông ấy 63 tuổi, cộng 5 với 3 là 8, trừ cung nhì Khôn là số 2 còn dư 6, lấy số 6 trừ cho họ phải đúng vì mỗi năm các ông tăng một tuổi, con số đặc biệt cũng tăng theo mãi. Như năm 1968 ông 45 tuổi trừ 5 còn số 4 là cung tứ Tốn, qua năm sau nữa ông 1969 ông 46 tuổi, trừ lại cho 6 cũng còn số 4 là tứ Tốn, qua năm sau nữa 1970 ông được 47 tuổi, lại trừ cho con số 7 còn lại số 4 là tứ Tốn, không sai được.

Bài này rất dài dòng, bạn nào không hiểu tức học lực còn non kém, vậy hãy để bàn tay lên mà tập vài lượt thì hiểu được, còn bạn nào học lực khá hơn, xem chừng nửa bài này cũng hiểu được rõ ràng. Nói cho dài dòng chứ thật ra năm 1968 bất cứ tuổi nào ai cũng lớn hơn cung Phi của mình 5 bậc. Qua năm 1969 ai cũng lớn hớn cung Phi của mình 6 bậc, mỗi năm mỗi tăng đến 9 bậc rồi trở về 1,2...

Khi bạn hiểu thấu tức biết năm nay dư 5, sang năm dư 6.

PHI CUNG NỮ MẠNG


Phải cho nam mạng lẹ như thế đó, còn nữ mạng phải chậm hơn, vì Phi cung của nữ mạng phải tùy theo Phi cung của nam mạng mà biến ra. Nhớ rằng nam nữ đồng tuổi nhau, hễ nam nhứt Khảm thì nữ ngũ trung Cấn, nam nhì Khôn thì nữ tứ Tốn, nam tam Chấn thì nữ tam Chấn, nam tứ Tốn thì nữ nhì Khôn, nam ngũ trung thì nữ nhứt Khảm, nam lục Càn thì nữ cửu Ly, nam thất Đoài thì nữ bát Cấn, nam bát Cấn thì nữ thất Đoài, nam cửu Ly thì nữ lục Càn. Ví dụ: Năm 1968, ông 69 tuổi là cung nhứt Khảm, bà 60 tuổi là cung ngũ trung Cấn - hay ông 61 là cung nhì Khôn, thì bà 61 là cung Tứ Tốn v.v... Nhớ như vầy: nam nhứt nữ ngũ, nam ngũ nữ nhất, nam nhị nữ tứ, nam tứ nữ nhị, nam tam nữ tam, nam lục nữ cửu, nam cửu nữ lục, nam thất nữ bát, nam bát nữ thất.

BÁT TỰ LỮ TÀI TRẦN TỬ TÁNH


Cung phi bát trạch dùng cả việc tạo tác và hôn nhân, khi xét qua hôn nhân nam nữ được bát trạch tốt thì dung được đại kiết, nếu được Bát Tự Lữ Tài thì càng thượng kiết. Nếu chọn Bát trạch không tốt như Bát Tự Lữ Tài được đại kiết cũng tạm dùng được gọi là tiểu kiết, bằng Bát trạch và Bát tự cùng xấu thì chẳng nên dùng.

Dùng đến Bát Tự Lữu tài thì nam mạng có Lữ Tài khác với cung Phi, những sự kiết hung nhiều điểm khác Phi cung. Về phần nữ mạng dù hôn nhân hay tạo tác cũng chỉ dùng cung phi Bát trạch không thay đổi, nghĩa là bà cung Càn Bát trạch thì dùng cung Càn luôn về hôn nhân cả sự tạo tác và các việc.

Muốn chiếm cung bát Tự cho nam mạng thì mình khoa học hóa cho tiện, nghĩa là dùng cung phi Bát trạch phi ra cung Bát Tự. Giả như ông nọ cung Khảm Bát trạch thì đếm 1 tại Khảm thuận đến cung thứ 7 tại Đoài là ông cung Khảm Bát Trạch, thì Bát Tự là cung Đoài. Hoặc giả ông nọ cung Càn đếm 1 tại Càn đến 7 tại Chấn thì đúng.

BÁT TỰ LỮ TÀI
(Kiết hay hung)

Nhứt Khảm biến thượng làm sao?
Đã đặng sanh khí ai nào phân lê.
Tuyệt mạng, tuyệt thể mựa hề,
Bát san xung khắc phân chia cửa nhà.
Thiên y, phước đức ai qua,
Đặng hai cung ấy người ta sang giàu.
Du hồn, qui hồn thứ sau,
Hiệp hôn cung ấy lấy nhau tầm tường.
Ngũ quỉ thì ta phải nhường,
Vợ chồng nghịch ý tư lương đêm ngày.
Lưu truyền cho thế gian hay,
Hễ sự giá thú dùng tay Lữ Tài.


Lữ Tài có hai lối như trên phi cung Bát trạch xem hôn nhân gọi là Bát Trạch Lữ Tài, còn xem cung Bát Tự thì gọi là Bát Tự Lữ Tài. Bát Tự Lữ Tài vẫn cung phi như Bát Trạch, phối hợp sanh sự kiết hung lại khác hẳn, nơi đây chỉ nói vắn tắt, bạn nên mua xem sách Kim Oanh Ký từ 2 đến 4 do nhà sách Hồng Dân xuất bản, các nhà sách khác cũng có lấy bán, mới đầy đủ mà thực nghiệm.

Xin chú ý: Coi biết trước đươc 100 năm đã qua và sắp tới, tuổi người chết có khắc với con cháu hay không? Lịch sách Á Đông năm Đinh Mùi 1967, năm 1968 và năm Kỷ Dậu 1969 còn nhiều bài rất hay và quan hệ v.v... Quý vị nhớ đón mua lịch sách và lịch treo năm Canh Tuất 1970, Tân Hơi 1971 v.v...

Xin quí vị lưu ý: Kim Oanh Ký 5 có nhiều bài rất hay, sách nào cũng không có mà sách này có nhiều bài liên hệ đến đời sống hằng ngày của quí vị. Quí vị nhớ đón mua sắp xuất bản (*).

- HẾT -

0 nhận xét:

Đăng nhận xét